Trong kỷ nguyên số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển then chốt cho mọi quốc gia. Việt Nam cũng đang tích cực hội nhập vào xu thế này.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã ví Nghị quyết 57 như “Khoán 10” trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc.
Ngày 13/1, phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Đảng, Nhà nước luôn coi khoa học, công nghệ là yếu tố quyết định và nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Đây chính là “chìa khóa vàng”, yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu, đồng thời hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc”.
Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của các công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Việt Nam không thể “lũi cũi đi sau” mà cần tận dụng mọi nguồn lực để “đứng trên vai người khổng lồ”, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển.

Theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thủy, Chủ tịch Hội tin học Việt Nam, nội dung phát biểu của Tổng Bí thư thể hiện tầm nhìn dài hạn: Việt Nam tận dụng nền tảng tri thức toàn cầu để bứt phá.
Đánh giá về tầm nhìn chiến lược từ phát biểu của Tổng Bí thư, GS Nguyễn Thanh Thủy dẫn chứng: Ngành công nghệ Việt Nam đã và đang tận dụng những thành tựu của thế giới để phát triển nhanh chóng, thay vì phải tự xây dựng từ đầu trong nhiều lĩnh vực của công nghệ thông tin và đổi mới sáng tạo.
“Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh ý tưởng “đứng trên vai người khổng lồ”, hàm ý rằng Việt Nam không cần phải phát triển từ con số 0 mà có thể học hỏi, kế thừa những mô hình thành công để đi tắt đón đầu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, thời cơ vàng đang mở ra nhờ sự chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và sự bùng nổ của công nghệ số”, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thủy nói.
Minh chứng cho nhận định này, GS Nguyễn Thanh Thủy phân tích, Việt Nam đã sử dụng nền tảng mã nguồn mở và công nghệ tiên tiến, tận dụng tốt các công nghệ mã nguồn mở và các nền tảng sẵn có từ các tập đoàn công nghệ lớn. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây; Blockchain, lĩnh vực thương mại điện tử, lĩnh vực Giao thông thông minh, Tài chính số… đều được Việt Nam tận dụng và phát triển rất tốt, mạnh mẽ.

“Việt Nam có thể học hỏi nhiều bài học giá trị từ các quốc gia như Hàn Quốc, Israel hay Singapore. Các nước này đã thành công trong việc tận dụng tri thức toàn cầu để phát triển công nghệ, tạo ra những đổi mới đột phá và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hàn Quốc đã thành công khi chuyển từ gia công sang sáng tạo thương hiệu toàn cầu. Israel đã trở thành quốc gia khởi nghiệp nhờ tập trung vào công nghệ quân sự và bảo mật. Còn Singapore trở thành trung tâm tài chính – công nghệ nhờ chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài và xây dựng cơ sở hạ tầng số vững chắc”, ông nói.
Từ góc nhìn của mình, PGS. TS Tạ Hải Tùng, Hiệu trưởng Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (Đại học Bách khoa Hà Nội) phân tích, thực tế Việt Nam là một quốc gia đi sau so với thế giới trong quá trình phát triển khoa học công nghệ.
Điều này cũng dễ hiểu, bởi trong một thời gian dài, đất nước bị chiến tranh tàn phá và chịu sự cô lập. Trong giai đoạn đó, nền khoa học công nghệ trên thế giới đã có những bước tiến công nghệ đột phá.
Trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng hơn, tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam đang hội tụ nhiều yếu tố hấp dẫn như nguồn lao động dồi dào ở thời kỳ dân số vàng, nhiều người trẻ được đào tạo bài bản, có kỹ năng tốt, và luôn háo hức với cái mới, cũng như Việt Nam đang là điểm đến thu hút được sự đầu tư từ các tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, “đứng trên vai người khổng lồ” là một cách tiếp cận đúng đắn với Việt Nam và đối với những quốc gia đi sau.
“Tận dụng được những tinh hoa thành tựu công nghệ của thế giới, Việt Nam sẽ nhanh chóng phát triển các sản phẩm của riêng mình phục vụ chính nền kinh tế – xã hội, người dân, Chính phủ Việt Nam; đồng thời gia tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế và tự tin tham gia sâu hơn vào sự phát triển khoa học công nghệ toàn cầu”, PGS Tạ Hải Tùng nói.